Phân tích bài thơ Đọc Tiểu Thanh kí của Nguyễn Du

Rate this post

Phân tích bài thơ Đọc Tiểu Thanh kí của Nguyễn Du

Bài làm

Nguyễn Du là nhà thơ nhân đạo vĩ đại. Toàn bộ sáng tác của Nguyễn Du chứa chan tình yêu thương đối với con người mà đặc biệt là người phụ nữ. Bài thơ Đọc Tiểu Thanh kí cũng là một sáng tác của Nguyễn Du viết về người con gái sắc tài mà bạc mệnh.

Thông qua số phận bất hạnh của Tiểu Thanh, Nguyễn Du bày tỏ lòng đổng cảm của nhà thơ với những kiếp người tài hoa, bạc mệnh đổng thời gởi gắm tâm sự cô đơn, khao khát tri âm của nhà thơ trước cuộc đời.

Tiêu Thanh là một cô gái trẻ, tài, sắc sống vào đầu đời Minh ở Trung Quốc. Nàng làm lẽ, bị vợ cả ghen bắt sống một mình trên núi Cô Sơn cạnh Tây Hổ. Nàng cô đơn, lâm bệnh và chết để lại một tập thơ. Vợ cả vì đố kị nên đốt cả tập thơ chỉ còn sót một số bài gọi là phần dư cảo. Nguyễn Du vì cảm thương cho nàng Tiêu Thanh mà viết bài thơ này.

Hai câu đề là tiêng thở dài của Nguyễn Du trước những biên thiên dâu bể của cuộc đời:

Tây hồ cảnh đẹp hóa gò hoang,

Thổn thức hên song mảnh giấy tàn.

Nghệ thuật đối lập, từ cảnh đẹp thành gò hoang cho thấy sự biến đổi lớn lao của thiên nhiên. Vườn hoa bên Tây Hổ đẹp nổi tiếng mà nay trở thành bãi hoang xơ xác, tiêu điều. Mượn sự biến đổi của thiên nhiên để nói lên những đổi thay dâu bể của cuộc đời. Nhắc đến Tây Hồ, ta nghĩ ngay đến Tiểu Thanh bởi khi sống nàng bị vợ cả ghen đày lên sống một mình trên núi Cô Sơn cạnh Tây Hồ. Vậy mà nay nơi này trở thành bãi hoang thì nàng Tiểu Thanh cũng không còn dâu tích gì nữa. Câu thơ như một tiêng thở dài của Nguyễn Du trước sự đổi thay của vạn vật. Từ tẫn trong nguyên tác nghĩa là tận, chỉ sự biên đổi tận cùng. Một mình Nguyễn Du viêng nàng Tiểu Thanh độc điếu qua phần thơ bị đốt còn sót lại. Qua đó ta thấy nàng Tiểu Thanh dù có bị người đời quên lãng nhưng Nguyễn Du xót xa thương cảm cho nàng. Đó là tiêng lòng của một tâm hồn nhạy cảm.

Trước số phận của Tiểu Thanh, nhà thơ bày tỏ nỗi bất bình với xã hội:

Son phân có thần chôn vẫn hận,

Văn chương không mệnh đốt còn vương.

Biện pháp hoán dụ son phâh chỉ nhan sắc, văn chương chi tài năng của nhân vật. Có tài, có sắc lẽ ra Tiểu Thanh phải được sống một cuộc đời hạnh phúc. Thế nhưng, tài năng, nhan sắc lại bị chôn, bị đốt, bị vùi dập, chà đạp. Phép đối lập diễn tả sâu sắc nỗi bất công, ngang trái của cuộc đời. Xót xa cho Tiểu Thanh, nhà thơ bày tỏ sự bất bình, tốcáo xã hội phong kiên bất công.

Từ thân phận Tiểu Thanh, Nguyễn Du bày tỏ lòng đồng cảm của mình với những kiếp nguời tài hoa mà bạc mệnh:

Nỗi hờn kim cố trời khôn hỏi,

Cái án phong lưu khách tự mang.

Hai câu thơ dịch chưa thật sát ý nghĩa của nguyên tác. Môi hận xưa nay khó mà hỏi trời. Chữ hận trong nguyên tác diễn tả thật sâu sắc nỗi uất ức, căm phần của tác giả trước những bất công ngang trái của cuộc đời. Nhà thơ tự nhận mình là người cùng hội cùng thuyền với những người chịu oan vì nét phong nhã. Đó là sự đồng cảm sâu sắc của Nguyễn Du với Tiểu Thanh, với những kiếp người tài hoa mà bạc mệnh như nàng Kiều, như người ca nữ đất Long Thành.

Hai câu thơ kết bài bày tỏ tâm sự của Nguyễn Du:

Chẳng biết ba trăm năm lủ nữa,

Người đời ai khóc Tố Như chăng?

Câu hỏi tu từ bộc lộ nỗi băn khoăn, day dứt của Nguyễn Du: Không biết hơn ba trăm năm nữa người đời sau ai khóc cho mình? Qua đó ta thấy tâm sự cô đơn, khao khát tri âm, khao khát sự sẻ chia của hậu thế.

Bài thơ sử dụng tài tình phép đối. Ngôn ngữ trữ tình mà đậm chất triết lí. Với Độc Tiểu Thanh kí ta thấy được vẻ đẹp của chủ nghĩa nhân đạo Nguyên Du vượt cả không gian và thời gian, đặc biệt là với số phận bất hạnh của người phụ nữ trong xã hội phong kiến có tài văn chương. Điều đó cũng nói lên một phương diện quan trọng trong chủ nghĩa nhân đạo của Nguyễn Du: xót xa cho những giá trị tinh thần bị chà đạp.