Phân tích bài thơ Lẽ ghét thương của tác giả Nguyễn Đình Chiểu

Phân tích bài thơ Lẽ ghét thương của tác giả Nguyễn Đình Chiểu
Đánh giá bài viết

Phân tích bài thơ Lẽ ghét thương của tác giả Nguyễn Đình Chiểu

Bài làm

Loading...

Nguyễn Đình Chiểu là một nhà thơ lớn, một ngôi sao sáng trên bầu trời văn học trung đại Việt Nam, các tác phẩm của ông chứa đựng tinh thần nhân văn sâu sắc. “Lục Vân Tiên” chính là một trong những tác phẩm tiêu biểu cho vấn đề đạo đức con người được ông quan tâm sâu sắc. Đoạn trích “Lẽ ghét thương” nằm ở phần hai của tác phẩm đã chinh phục được người đọc bởi tính nhân dân, tình cảm yêu ghét phân minh và tấm lòng nhiệt thành với chính nghĩa của tác giả.

Đoạn trích gồm 26 câu thơ lục bát là lời của ông Quán, trong đó có 10 câu nói về “ghét” và 16 câu nói về “thương”. Hoàn cảnh để ông bày tỏ lẽ ghét thương của mình là khi Lục Vân Tiên vùng với Tử Trực thi thố vói Trịnh Hâm và Bùi Kiện. Khi Hâm và Kiện thua lại đổ cho bên của Lục Vân Tiên gian lận nên ông đã lên tiếng thể hiện sự ghét thương của mình. Đây chính là điều mà tác giả nhờ ông Quán nói lên hộ mình, bộc lộ rõ tư tưởng trung quân ái quốc của Nguyễn Đình Chiểu, được xuất phát từ lợi ích của nhân dân.

“Bởi chưng hay ghét cũng là hay thương” cây thơ này đã cho ta thấy được gốc rễ, căn nguyên của nỗi ghét chính là tình thương dân sâu sắc. Chính tình thương dân là điểm tựa và động lực tinh thần để nhà thơ lên tiếng phê phán những bọn xấu xa, kẻ độc ác. Có mười câu thơ nhưng từ “ghét được lặp đi lặp lại tới 8 lần, đã diễn tả được tư tưởng và tình cảm của tác giả. Ta cảm giác được nhà thơ đã dồn nén vào đây tất cả sức mạnh của tình cảm để bộc lộ sự khinh ghét, căm giận đến tột độ với những ngang trái bất công của cuộc đời. Những kẻ có quyền, có ô lọng đã lợi dụng chỗ dựa để lừa gạt, làm hại dân, làm dân luống chịu lầm than muôn phần, “sa hầm sẩy hang”.

Loading...

“Ghét đời Kiệt, Trụ mê dâm…

Sớm đầu tối đánh lằng nhằng dối dân.”

Nỗi ghét ấy sâu đậm và cao độ “Ghét cay, ghét đắng, ghét vào tận âm”, với cách diễn đạt tăng cấp, tác giả bộc lộ cái ghét của mình chính là lòng căm thù cao độ, sâu cay, căm thù tất cả những kẻ làm tổn hại đến cuộc sống và hạnh phúc của nhân dân.

Mười sáu câu thơ sau chính là lời bộc lộ lòng yêu thương dân của nhân vật hay cũng chính là của tác giả. Trước tiên là tình thương của ông với Khổng Tử vất vả, gian lao trong công việc truyền đạo Nho.

“Thương là thương đức thánh nhân

Khi nơi Tống, Vệ, lúc Trầm lúc Khuông”

Ông bày tỏ lòng yêu thương dân trực tiếp với những bậc hiền nhân quân tử đời xưa, những con người tài đức nhưng không gặp thời vận nên không thành sự nghiệp. Thương “Nhan Tử dở dang” chưa đạt công danh mà chết yểu, thương Gia cát lượng “đã đành phôi pha”, Đồng Tử chí lớn mà “không nguôi”, Nguyên Lượng “lại lui về cày”, Hàn Dũ “bị đày đi xa”,… Đó đều là những người có tài cao chí lớn, muốn phò vua giúp đời nhưng lại gặp nhiều bất hạnh nên nguyện vọng cứu dân không thành. Từ “thương” trong đoạn thơ này được lặp lại đến chín lần, điều đó không chỉ thể hiện tình yêu tha thiết của ông dành cho những đối tượng cụ thể kể trên mà còn bộc lộ tình cảm bao la rộng lớn dành cho những số phận cay đắng của con người trước những quy luật khắc nghiệt của tạo hóa. Chính họ là những người có hoàn cảnh nhiều nét tương đồng với Đồ Chiểu – một người từng nuôi chí lớn giúp dân, giúp đời. Cuộc đời nhà thơ cũng gặp nhiều bất hạnh, chính vì thế mà tình thương của ông chính là niềm thương cảm sâu sắc về thân phận mình cũng như thân phận người.

Bằng việc mượn lời của nhân vật ông Quán, Nguyễn Đình Chiểu đã giãi bày những tâm sự của mình về lẽ ghét thương với con người, hai trạng thái tình cảm ấy tuy đối nghịch nhưng lại được thống nhất và rõ ràng trong một con người. Cái thương và cái ghét đan xen nhau, chính là một trái tim cùng hòa nhịp đập với cuộc đời và với nhân dân. Bài thơ xứng đáng là một bài ca đạo đức, bản trường ca ca ngợi chính nghĩa, gây ấn tượng trong lòng người đọc một cách sâu sắc.