Phân tích cảm nhận bài ca dao: Muối ba năm muốt đang còn mặn, Gừng chín tháng gừng hãy còn cay. Đôi ta nghĩa nặng tình dày, Có xa nhau đi nữa, cũng ba vạn sáu ngàn ngày mới xa

Phân tích cảm nhận bài ca dao: Muối ba năm muốt đang còn mặn, Gừng chín tháng gừng hãy còn cay. Đôi ta nghĩa nặng tình dày, Có xa nhau đi nữa, cũng ba vạn sáu ngàn ngày mới xa
Đánh giá bài viết

Phân tích cảm nhận bài ca dao: Muối ba năm muốt đang còn mặn, Gừng chín tháng gừng hãy còn cay. Đôi ta nghĩa nặng tình dày, Có xa nhau đi nữa, cũng ba vạn sáu ngàn ngày mới xa

Bài làm

Loading...

Đối với ca dao – dân ca, tình yêu nam nữ là đề tài có sức hấp dẫn kì lạ. Ca dao – dân ca khi thì ẩn giấu những nỗi niềm sâu xa, lắng đọng, khi thì trào dâng những cảm xúc dạt dào, mạnh mẽ của tình yêu nam nữ. Dường như thách thức của thời gian và mọi trờ ngại trên đường đời chỉ làm cho tình yêu thêm phần mãnh liệt, vững bển. Bài ca dao Muôi ba năm… đã diễn tả phần nào tình nghĩa Vợ chồng thuỷ chung trong xã hội phong kiên ngày xưa:

Muối ba năm muối đang còn mặn,

Gừng chín tháng gừng hãy còn cay.

Đôi ta nghĩa nặng tình dày,

Có xa nhau đi nữa, cũng ba vạn sáu ngàn ngày mới xa.

Ban đầu, trai gái yêu nhau thường lấy trăng, hoa, sống, núi… làm cái cớ để tỏ tình, để hứa hẹn, thề thốt. ở vào thời điềm mơ mộng, huyền diệu ấy, tình yêu hiện ra thật lãng mạn, đẹp đẽ: Tâm lí của những kẻ đang yêu là Nhất nhật bất kiến như tam thu hề, một ngày không gặp nhau dài bằng ba thu, nhưng khi đã nên vợ nên chồng thì tình yêu chuyển thành tình thương, tình nghĩa, tức là đi vào chiều sâu của tình cảm. Ca dao đã mượn các hình ảnh gần gũi, quen thuộc đế miêu tả tình nghĩa vợ chồng:

Muối ba năm muối đang còn mặn,

Gừng chín tháng gừng hãy còn cay.

Hình tượng thơ không cầu kì, bóng bẩy mà đơn sơ, gần gũi. Muối và gừng là những gia vị thường dùng trong bữa cơm hằng ngày của người bình dân. Hơn thế, muối và gừng còn là những vị thuốc đắc dụng trong lúc ốm đau. Được các tác giả dân gian đưa vào văn chương, muối và gừng đã mang ý nghĩa tượng trưng cho tình nghĩạ Vợ chồng đậm đà, sâu nặng.

Hai câu đầu của bài ca dao nhân mạnh bán chất khó thay đổi bởi thời gian của muối và gừng. Những số từ như ba năm, chín tháng không phải là sốtừ cụ thê mà nó hàm ý chi thời gian lâu dài. Mà thời gian lại chính là thừ thách nghiệt ngã nhất, là thước đo chính xác nhất phẩm chất và giá trị của sự vật, của con người.

Muôi và gừng là những sản phẩm do chính tay người dân làm ra và gắn bó đời đời kiếp kiếp với họ. Muôi là kết tinh của nước biển, màu trắng, hạt nhỏ, có vị mặn. Muôi có mặt trong bữa ăn của mọi nhà, mọi người. Cái vị mặn mòi của muối được nhân mạnh trong cụm từ muối ba năm. Trải qua năm tháng, hạt muối càng mặn mà thêm, cũng giông như thời gian trôi qua càng làm đậm đà hơn tình chồng nghĩa vợ.

Gừng là loại cây thường được trổng ở trong vườn, ngoài đổng. Vị cay nồng của gừng làm nóng ran từ miệng vào tới gan ruột, khiên ta có cảm giác tăng thêm nhiệt huyết, sức lực. Độ cay của gừng chín tháng được ngầm so sánh với mức độ thắm thiết của tình cảm Vợ chồng. Trong gian nan, vất vả, tình nghĩa Vợ chồng càng thêm sâu nặng.

Để làm nổi bật hai hình ảnh muôĩ ba năm với gừng chín tháng, các tác giả dân gian đã sử dụng nhiều biện pháp tu từ đặc sắc. Sự cân đôi nhịp nhàng của hai câu thơ bảy chữ kết hợp với điệp từ muối và gừng được lặp lại hai lần trong câu thơ, có sự bổ trợ của cụm từ chi trạng thái đang còn mặn, hãy còn cay, đặc tả tình nghĩa Vợ chồng đằm thắm, nổng nàn.

Loading...

Gừng cay, muối mặn tượng trưng cho tình nghĩa của những cặp Vợ chồng nghèo cùng nhau chung lưng đầu cật, lên thác xuống ghềnh, lên rừng xuống biển. Chén cơm sẻ nửa, hạt muối chia đôi. Qua gian nan, cơ cực, tình nghĩa Vợ chồng gắn bó càng thêm sâu sắc:

Đôi ta nghĩa nặng tình dày

Câu thơ sáu chữ có âm điệu ngọt ngào, sâu lắng cùng với các từ ngừ đan xen hài hoà, thể hiện sự khăng khít của cặp Vợ chồng rất đỗi thương nhau. Từ Đôi ta nói lên sự khăng khít, hoà hợp. Đôi ta khác hai ta vì hai ta chưa thế là một. Để tiếp tục khắc sâu ý nghĩa của từ Đôi ta, tác giả cụ thể hoá bằng hình ảnh nghĩa nặng tình dày. Nghĩa đặt trước tình, quân quyện vào nhau, không có gì đo lường được tình nghĩa Vợ chồng dành cho nhau. Thành ngữ nghĩa nặng tình dày như một hòn đá tảng trong đời sống Vợ chồng, không sức mạnh gì xô đẩy, di chuyển được.

Nhưng không phải lúc nào tình yêu nam nữ, tình nghĩa Vợ chồng cũng thuận buồm xuôi gió. Trong cuộc sống chung, vợ chồng cũng phải lên thác xuống ghềnh, ba chìm bảy nỗi chín lênh đênh, nghĩa là bên cạnh cái ngọt ngào của tình yêu, họ cũng gặp nhiều khó khăn trong cuộc sống tình đời thường cần phải vượt qua.

Câu thơ: Có xa nhau đi nữa cũng ba vạn sáu ngàn ngày mới xa đột ngột kéo dài từ sáu chữ thành mười ba chữ, không phải là không có lí do. Độ dài của câu ca dao phần nào bộc lộ sự băn khoăn, bức xúc trong tâm trạng của người vọ hoặc người chồng, ò đinh cao của tình cảm Vợ chồng, giữa thời điểm hạnh phúc nhất, đôi khi người vợ hoặc người chống tự nhiên phân vân, lo lắng cho tương lai, cho những ngày tiếp theo liệu có giữ được gừng cay, muối mặn, nghĩa nặng tinh dày mãi không?

Cụm từ có xa nhau đi nữa diễn tả tám trạng có thật của một trong hai người, nhưng nó chi là một dao động thoáng qua, một sự lo xa cẩn thiết ở những người vợ, người chồng biết lo lắng, chăm sóc gìn giữ cho hạnh phúc gia đình.

Nhân vật trữ tình tự đặt ra giả thiết: có xa nhau đi nữa và cũng tự trả lời: ba vạn sáu ngàn ngày mới xa. Tại sao họ không nói một trăm năm mà lại là ba vạn sáu ngàn ngày? Cách nói như dằn từng tiêng, nhân mạnh quyết tâm sắt đá, khắc cốt ghi xương lời thề gìn giữ cuộc sống Vợ chồng cho vuông tròn đến đầu bạc răng long.

Dầu không sử dụng một từ so sánh nào nhưng ý so sánh trong bài ca dao vẫn khá rõ. Giông như muối mặn, gừng cay, tình nghĩa đôi ta trải qua năm tháng càng thêm nặng, thêm dày, không gì có thể làm cho phai nhạt. Điều thú vị ở đây là cách nói vòng. Ba vạn sáu ngàn ngày tức là một trăm năm. lấy vợ lấy chồng, ai cũng ao ước được trăm năm hạnh phúc bên nhau. Vậy thì cái chuyện xa nhau dẫu có thể xảy ra thì củng phải sau ba vạn sáu ngàn ngày, khi mà cả hai đều đã sống trọn vạn kiếp người.

Để ý một chút, ta sẽ thấy cấu trúc ngữ pháp của câu cuối cùng khá lạ. Hai chữ xa đặt ở đầu và cuối câu, ở giữa là thành ngữ chi thời gian dài đằng đẵng. Quan hệ ngữ nghĩa là quan hệ giá thiết – kết quả được thể hiện bằng sự kết hợp giữa nhiều thù pháp nghệ thuật đặc sắc như nói vòng, cường điệu để nhân mạnh ý cần khăng định.

Sức mạnh của tình yêu nam nữ không trờ lực nào ngăn càn được. Tinh cảm vợ chồng lại càng không Có thể lực nào phá vỡ được. Đó là những thông điệp mà bài ca dao trên muôn gửi đến mọi người. Tình nghĩa Vợ chồng gắn bó thủy chung đã được xây dựng trên nền tảng là cuộc sống lao động vất và của những người cùng canh ngộ:

Tay bưng chén muối đĩa gừng,

Gừng cay muối mặn xin đừmg quên nhau!

Bài ca dao trên mang đậm phong cách của ca dao dân ca vùng miền Trung. Chúng ta hãy thử hình dung vào một sớm mai hồng hay một đêm trăng thanh, trên sống nước, con thuyền thong thả trôi xuôi, mái chèo khỏa nước. Trong không gian mênh mông bỗng ngân lên một giọng hò khoan nhặt, ca ngợi tình nghĩa Vợ chồng thủy chung son sắt. Chắc hằn những sợi dây đàn trong tâm hồn của mỗi chúng ta sẽ rung lên, rung lên mãi để cùng hòa điệu. bốn câu ca dao vừa miêu tả hiện thực vừa là khát khao hạnh phúc lâu bền của người bình dân tự ngàn xưa.